ANTD.VN - Dự thảo Luật An ninh dữ liệu quy định mật mã an ninh do Bộ Công an thống nhất quản lý, sử dụng để bảo vệ dữ liệu và bí mật nhà nước. Việc sử dụng mật mã an ninh để bảo vệ bí mật Nhà nước được thực hiện có lộ trình…
Đề xuất quy định 5 cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu
Trong phiên họp sáng nay, 26-10, Quốc hội nghe Đại tướng Lương Tam Quang, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật An ninh dữ liệu.
Dự thảo Luật gồm 6 chương, 29 điều, quy định nguyên tắc, biện pháp bảo vệ an ninh dữ liệu; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và nội dung quản lý nhà nước về an ninh dữ liệu.
Về bảo vệ an ninh dữ liệu theo cấp độ rủi ro và vòng đời dữ liệu, dự thảo Luật quy định 5 cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu; chủ quản dữ liệu tự xác định cấp độ, áp dụng biện pháp bảo vệ tương xứng và chịu trách nhiệm về kết quả xác định, theo cơ chế hậu kiểm là chủ yếu. Chủ quản dữ liệu từ Cấp độ 3 trở lên có trách nhiệm đánh giá tác động, kiểm toán an ninh dữ liệu định kỳ; hệ thống xử lý dữ liệu Cấp độ 4, Cấp độ 5 phải được thẩm định theo quy định.

Đại tướng Lương Tam Quang, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật An ninh dữ liệu.
Về bảo vệ an ninh dữ liệu trong chuyển đổi số, công nghệ mới, dự thảo Luật quy định trách nhiệm bảo vệ an ninh dữ liệu đối với hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu quốc gia trọng yếu, hệ thống vật lý - số, hoạt động xử lý dữ liệu quy mô lớn và chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ dữ liệu. Đối với hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dự thảo Luật yêu cầu kiểm soát nguồn gốc, bảo đảm tính nguyên vẹn của dữ liệu huấn luyện và dữ liệu dẫn xuất; phòng, chống hành vi đầu độc dữ liệu, trích xuất dữ liệu trái phép…
Về mật mã bảo vệ dữ liệu, dự thảo Luật quy định mật mã an ninh do Bộ Công an thống nhất quản lý, sử dụng để bảo vệ dữ liệu và bí mật Nhà nước. Việc sử dụng mật mã an ninh để bảo vệ bí mật Nhà nước được thực hiện có lộ trình, trước mắt áp dụng trong lực lượng Công an nhân dân.
Về chuyển, xử lý dữ liệu xuyên biên giới, dự thảo Luật quy định dữ liệu Cấp độ 1, Cấp độ 2 không phải thực hiện thủ tục theo Luật này khi chuyển ra nước ngoài; dữ liệu Cấp độ 3 do chủ quản dữ liệu tự đánh giá và lưu giữ hồ sơ; dữ liệu Cấp độ 4, Cấp độ 5 phải được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, chấp thuận trước khi chuyển.
Về ứng phó sự cố và biện pháp khẩn cấp, dự thảo Luật thiết lập cơ chế theo dõi, cảnh báo sớm, báo cáo và điều phối ứng cứu sự cố an ninh dữ liệu. Căn cứ, thẩm quyền, phạm vi và thời hạn áp dụng biện pháp kỹ thuật khẩn cấp được quy định cụ thể ngay trong Luật; việc áp dụng ưu tiên biện pháp ít hạn chế quyền nhất và phải chấm dứt ngay khi căn cứ áp dụng không còn. Tổ chức, cá nhân bị áp dụng biện pháp được bảo đảm quyền khiếu nại, khởi kiện và được bồi thường thiệt hại theo quy định.
Dự thảo Luật quy định Bộ Công an chủ trì thực hiện quản lý Nhà nước về an ninh dữ liệu; Bộ Quốc phòng quản lý đối với dữ liệu, hệ thống thông tin quân sự; hệ thống thông tin cơ yếu do Ban Cơ yếu Chính phủ quản lý. Lực lượng bảo vệ an ninh dữ liệu được bố trí trên cơ sở tổ chức, biên chế hiện có, không hình thành tổ chức, bộ máy mới.
Nhất trí với cơ chế phân luồng chuyển dữ liệu ra nước ngoài theo cấp độ rủi ro
Thẩm tra dự án Luật An ninh dữ liệu, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại (Uỷ ban) của Quốc hội nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật An ninh dữ liệu nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng về bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, chủ quyền số, chủ quyền dữ liệu; thiết lập khung pháp lý quản lý rủi ro, xác định trách nhiệm đối với bản thân dữ liệu và chủ quản dữ liệu....
Về cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu (Điều 8), Ủy ban nhất trí với việc quản lý theo 5 cấp độ rủi ro tương ứng với 5 cấp độ hệ thống thông tin theo Luật An ninh mạng, đồng thời tích hợp kết quả phân loại dữ liệu theo Luật Dữ liệu và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị bổ sung quy định cơ quan chuyên trách thường xuyên rà soát, cập nhật; thiết lập cơ chế xác định dữ liệu Cấp độ 5 chặt chẽ hơn…
Về trách nhiệm của các chủ thể, thẩm định an ninh dữ liệu và bảo vệ an ninh dữ liệu đối với hạ tầng số, Ủy ban cơ bản nhất trí với quy định phân định trách nhiệm giữa chủ quản dữ liệu, bên xử lý dữ liệu và bên cung cấp sản phẩm, dịch vụ; quy định thẩm định an ninh dữ liệu thực hiện một lần, đồng thời với thẩm định an ninh mạng, không yêu cầu bàn giao mã nguồn, trọng số mô hình...
Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị phân định trách nhiệm gắn với quyền quyết định đối với dữ liệu và phạm vi kiểm soát của từng chủ thể, việc thuê ngoài không làm chuyển giao trách nhiệm pháp l; bổ sung trình tự, thời hạn thẩm định đối với hệ thống Cấp độ 4, Cấp độ 5 không thuộc diện thẩm định an ninh mạng…

Quang cảnh phiên họp
Về chuyển dữ liệu xuyên biên giới và các quy định có yếu tố nước ngoài, Ủy ban cơ bản nhất trí với cơ chế phân luồng chuyển dữ liệu ra nước ngoài theo cấp độ rủi ro, không đặt yêu cầu lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam mà tập trung kiểm soát khóa giải mã; cơ chế xử lý yêu cầu cung cấp dữ liệu trực tiếp của cơ quan nước ngoài...
Về cảnh báo sớm, biện pháp kỹ thuật khẩn cấp, ứng phó sự cố, lực lượng và quản lý Nhà nước, Ủy ban đánh giá cao việc dự thảo Luật đã luật hóa căn cứ, thẩm quyền, thời hạn và quyền của đối tượng bị áp dụng biện pháp kỹ thuật khẩn cấp; nhất trí xác định lực lượng bảo vệ an ninh dữ liệu thuộc lực lượng bảo vệ an ninh mạng, bố trí trên cơ sở tổ chức, biên chế hiện có.
Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị quy định việc báo cáo, điều phối sự cố đối với hệ thống thông tin quân sự, cơ yếu trong hệ thống chuyên ngành của Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ, bổ sung diễn tập ứng phó sự cố đối với hệ thống Cấp độ 4, Cấp độ 5…
Nguồn: https://anninhthudo.vn/thiet-lap-co-che-theo-doi-canh-bao-som-bao-cao-va-dieu-phoi-ung-cuu-su-co-an-ninh-du-lieu-post673299.antd



Viết bình luận